Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản bứt phá phiên thứ ba liên tiếp lên mức cao nhất trong vòng 15 năm qua, được nâng đỡ bởi giá giao ngay tại Thái Lan neo cao do thời tiết bất lợi làm gián đoạn nguồn cung và sự ổn định của giá dầu thô. Trong khi đó, thị trường mủ nguyên liệu nội địa tiếp tục đi ngang ổn định giữa bối cảnh kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm sụt giảm.

Diễn biến sàn giao dịch
-
OSE (Sàn Osaka - Nhật Bản): Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 11 tăng nhẹ 0,6 yên (0,13%), lên mức 445,6 yên (2,78 USD)/kg.
-
SHFE (Sàn Thượng Hải - Trung Quốc):
-
Hợp đồng cao su tự nhiên giao tháng 9 tăng 235 nhân dân tệ (1,32%), lên mức 18.075 nhân dân tệ (2.675,32 USD)/tấn.
-
Hợp đồng cao su tổng hợp (butadiene) giao tháng 7 tăng 45 nhân dân tệ (0,34%), đạt 13.465 nhân dân tệ/tấn.
-
SICOM (Sàn Singapore): Hợp đồng giao tháng 7 đi ngang, giao dịch ở mức 231,5 US cents/kg.
Giá cao su nội địa đi ngang, xuất khẩu 5 tháng đầu năm sụt giảm
Tại thị trường trong nước, giá thu mua mủ cao su nguyên liệu tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục duy trì trạng thái ổn định vững chắc, không ghi nhận biến động mới so với phiên trước.
-
Công ty Cao su Bình Long: Giá thu mua mủ nước tại nhà máy tiếp tục giữ ở mức 545 đồng/độ TSC/kg, và tại đội sản xuất duy trì ổn định ở ngưỡng 535 đồng/TSC/kg. Mặt hàng mủ tạp (DRC 60%) neo tại mức 18.000 đồng/kg.
-
Công ty Cao su Mang Yang: Niêm yết giá thu mua mủ nước loại 1 và loại 2 lần lượt giữ nguyên ở mức 463 đồng/TSC và 458 đồng/TSC; mủ đông tạp dao động ổn định trong khoảng 404 – 459 đồng/DRC tùy theo chất lượng phân loại.
-
Công ty Cao su Phú Riềng: Đơn vị này chào giá thu mua mủ nước đi ngang ở mức 420 đồng/TSC và mủ tạp giữ ổn định ở ngưỡng 390 đồng/DRC.
-
Công ty Cao su Bà Rịa: Mức giá thu mua mủ nước (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30) đứng ở ngưỡng 420 đồng/độ TSC/kg. Mủ nguyên liệu đạt 18.100 đồng/kg và mủ đông DRC (35 – 44%) duy trì tại 14.600 đồng/kg.
Tình hình xuất khẩu: Theo số liệu từ Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cao su trong tháng 5 đạt 74.003 tấn, tương đương 150,3 triệu USD, giảm 23,8% về lượng và 13,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025 do sức mua từ các thị trường chủ lực chậm lại.
Lũy kế 5 tháng đầu năm, tổng khối lượng xuất khẩu đạt 529.055 tấn với kim ngạch 994,9 triệu USD, giảm lần lượt 3,8% về lượng và 5,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Xu hướng này phản ánh áp lực kép lên ngành cao su khi cả nhu cầu quốc tế lẫn giá bán bình quân đều chưa phục hồi rõ rệt.
Các yếu tố tác động chính
Gián đoạn nguồn cung do thời tiết: Cục Khí tượng Thái Lan – quốc gia sản xuất cao su hàng đầu thế giới – đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ lũ quét tại các khu vực phía Bắc và phía Đông do khả năng xuất hiện mưa lớn từ ngày 17/6 đến 19/6. Dù miền Bắc Thái Lan có sản lượng thấp hơn miền Nam, những diễn biến thời tiết thất thường này vẫn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động cạo mủ, qua đó tiếp tục đẩy giá cao su leo dốc từ đầu năm đến nay.
Giá cao su giao ngay tăng cao: Tại Thái Lan, giá các mặt hàng tiêu chuẩn xuất khẩu chịu tác động tích cực từ lo ngại nguồn cung. Cụ thể, giá cao su tấm xông khói (RSS3) tăng 0,96% lên mức 105,88 baht/kg và cao su định hình khối (STR20) tăng 0,75% lên mức 84,62 baht/kg.
Giá dầu thô phục hồi: Giá dầu nhích tăng nhẹ, đảo ngược đà giảm từ phiên trước đó khi các nhà đầu tư đánh giá liệu cuộc chiến tại Iran có thực sự hạ nhiệt để eo biển Hormuz sớm mở cửa trở lại hay không. Các quan chức trong ngành dầu khí nhận định rằng việc khôi phục hoàn toàn sản lượng và năng lực lọc dầu về mức trước chiến tranh có thể mất hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm. Do cao su tự nhiên cạnh tranh trực tiếp với cao su tổng hợp (làm từ dầu thô), sự ổn định ở mức cao của giá dầu đã tạo động lực tăng cho thị trường cao su.
Nguồn: Reuters, Tạp chí doanh nghiệp và hội nhập




